TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Tên luận án: Nghiên cứu thực trạng một số bệnh thường gặp của phạm nhân ở trại giam và hiệu quả giải pháp can thiệp (2012-2016).
Chuyên ngành: Quản lý y tế
Mã số: 972 08 01
Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Sỹ Thanh
Họ và tên người hướng dẫn:
1. GS.TS. Phạm Quang Cử
2. PGS.TS. Phạm Văn Thao
Cơ sở đào tạo: Học viện Quân y
TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học có giá trị thực tiễn và có tính cấp thiết. Luận án cung cấp những kết quả nghiên cứu mới về thực trạng một số bệnh thường gặp của phạm nhân tại 03 trại giam thuộc Bộ Công an (Sông Cái, Cây Cầy và Vĩnh Quang) năm 2014 – 2015 và một số yếu tố liên quan, bên cạnh đó, đánh giá được hiệu quả của biện pháp can thiệp cải thiện môi trường và can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe trong phòng ngừa 4 bệnh truyền nhiễm thường gặp của phạm nhân là viêm gan B, viêm gan C, HIV/AIDS và lao phổi tại trại giam Vĩnh Quang.Cụ thể:
– Kết quả lần khám sức khỏe gần nhất của 1.485 phạm nhân của 3 trại giam nghiên cứu cho thấy: đa số phạm nhân có sức khoẻ loại 2 (36,3%); có 84,2% phạm nhân mắc bệnh truyền nhiễm; 18,1% mắc bệnh không truyền nhiễm và 8,8% phạm nhân không mắc bệnh. Có 8,8% phạm nhân mắc viêm gan B; 17% phạm nhân mắc viêm gan C; 7,4% phạm nhân nhiễm HIV và 4,7% phạm nhân mắc lao phổi.
– Với thực trạng 4 bệnh (viêm gan B, viêm gan C, HIV/AIDS và lao phổi), một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê là: tình trạng hôn nhân, kiến thức và thực hành phòng tránh bệnh và việc tiêm phòng.
– Điều kiện môi trường tại trại giam được cải thiện rõ rệt sau can thiệp cải tạo điều kiện vệ sinh môi trường: 100% các vị trí đánh giá đều đạt tiêu chuẩn cho phép về vi khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn, CO2. Tỷ lệ tỷ lệ mẫu đánh giá vi sinh vật trong không khí đạt tiêu chuẩn tăng có ý nghĩa thống kê (86,7% so với 6,7%).
– Sau can thiệp truyền thông – giáo dục sức khỏe, tỷ lệ phạm nhân có kiến thức và thực hành đúng về phòng chống 4 bệnh truyền nhiễm (viêm gan B, viêm gan C, HIV và Lao) tăng có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp với chỉ số hiệu quả đạt từ 31,6% đến 300%./.