TRANG THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN
Tên luận án: Bệnh Tiêu Chảy Cấp Trên Heo (Porcine Epidemic Diarrhea) Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long: Đặc Điểm Bệnh Học và Di Truyền Virus
Chuyên ngành: Bệnh lý học và chữa bệnh vật nuôi
Mã ngành: 62 64 01 02
Họ tên nghiên cứu sinh: Huỳnh Minh Trí
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hải
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Cần Thơ
1. Tóm tắt nội dung luận án
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định sự lưu hành của Porcine epidemic diarrhea virus (PEDV); xác định các đặc điểm bệnh học và phân tích di truyền của các chủng PEDV tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả khảo sát tỷ lệ lưu hành PEDV bằng phương pháp ELISA tại 431 cơ sở chăn nuôi heo nái chưa tiêm phòng vaccine PED, với 1.605 mẫu huyết thanh heo nái tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận, có 206 cơ sở (47,80%) với 408 mẫu huyết thanh (25,42%) có kháng thể kháng PEDV. Tỷ lệ lưu hành PEDV cao nhất ở Tiên Giang (33,72%) và thấp nhất ở Đồng Tháp (17,06%). Tỷ lệ cá thể nái có kháng thể kháng PEDV cao nhất ở qui mô 50 – 100 nái (27,04%); và thấp nhất ở qui mô dưới 10 nái (19,75%).
Phân tích các yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh PED cho thấy, v nguy cơ cao nhất là không sát trùng chuồng trại hoặc sát trùng chuồng trại ít hơn 2 tuần/lần (OR = 3,22), không có hồ sát trùng trước trại (OR = 3,01), khoảng cách với các hộ chăn nuôi có dịch bệnh (OR = 2,26) và mua con giống bên ngoài (OR = 2,06).
Khảo sát tình hình dịch bệnh PED tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, 20,76% (109/525) heo nái mắc bệnh tiêu chảy do PEDV, và tỷ lệ nhiễm PEDV trên heo con theo mẹ mắc bệnh tiêu chảy là 27,72% (627/2.262). Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết trong các ổ dịch tiêu chảy cấp trên heo con theo mẹ tương ứng là 97,97% (627/640 con) và 80,70% (506/627), trong đó, tỷ lệ bệnh và chết cao nhất là ở giai đoạn heo con dưới 7 ngày tuổi (tương ứng 100 và 84,47%) và thấp nhất là giai đoạn trên 10 ngày tuổi (88,10 và 64,86%).
Triệu chứng lâm sàng đặc trưng trên heo con theo mẹ trong các ổ dịch PED là tiêu chảy phân lỏng, nhiều nước, màu vàng và xanh. Bệnh tích đại thể đặc trưng là dạ dày căng phồng, chứa nhiều sữa vón cục không tiêu hóa, thành ruột non bị bào mỏng, trong suốt. Bệnh tích vì thể đặc trưng là lông nhung ruột non bị đứt nát, bong tróc ra và ngắn lại, biểu mô tuyên ruột già đứt nát, niêm mạc dạ dày hoại tử bong tróc. Trên heo nái, triệu chứng lâm sàng chủ yếu là tiêu chảy phân lông màu xám.
Khảo sát mức tương đồng trình tự nucleotidevà amino acid gene E cho thấy, mức độ tương đồng trình tự nucleotide từ 98,2 – 100% và trình tự amino acid 97,3 – 100%. So sánh với các chủng tham khảo ở châu Á, Âu và Mỹ tương đông 96,1 – 99,7% và 93,4 100%. Dựa trên gene E, các chủng trong nghiên cứu thuộc nhóm G2.
Tương đồng trình tự nucleotide amino acid gene M giữa 10 chúng dao động từ 98,6-100% và 98,6 – 100%. So với các chủng ở châu Á, Âu và Mỹ là 97,2 – 99,8% và 96,9 100%. Dựa trên gene M, các chủng trong nghiên cứu thuộc phân nhóm G2-2.