TRANG THÔNG TIN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Nghiên cứu sinh: Trần Ngọc Hà
Đề tài luận án: Nghiên cứu khủng hoảng tiền tệ tại Việt Nam và đề xuất giải pháp phòng ngừa
Ngành: Kinh tế Quốc tế Mã số ngành: 9310106
Người hướng dẫn: PGS, TS Nguyễn Thị Tường Anh
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Ngoại thương
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Thứ nhất, các nghiên cứu quốc tế phần lớn xây dựng mô hình cảnh báo cho các nước đã từng xảy ra khủng hoảng tiền tệ (KHTT). Trong khi đó, các nghiên cứu trong nước đa phần xây dựng mô hình cảnh báo cho một giai đoạn nhất định, chưa mang tính khái quát cao. Đóng góp của luận án này là đã xây dựng được mô hình cảnh báo KHTT cho Việt Nam trong điều kiện của một nước đang phát triển chưa xảy ra KHTT. Mô hình này đã được kiểm chứng trong một giai đoạn dài của nền kinh tế từ khi bắt đầu hội nhập cho tới nay (1996-2023). Tính khái quát hóa, hệ thống hóa đã giúp mô hình không chỉ có ý nghĩa về mặt quá khứ mà còn có tính khả thi để dự báo các cuộc khủng hoảng tương lai tại Việt Nam.
Thứ hai, nhiều mô hình đưa vào các chỉ số cảnh báo với tần suất quan sát theo quý và theo năm. Điều này cho phép các tác giả đánh giá được nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế nhưng lại làm giảm đi tính dự báo của mô hình. Trong luận án này, nghiên cứu sinh đã cải thiện tính dự báo cho mô hình bằng cách sử dụng 3264 quan sát theo tháng ứng với 10 chỉ số cảnh báo thích hợp với Việt Nam, vừa cho thấy sự phù hợp trong việc phân tích câu chuyện quá khứ, vừa đảm bảo tính cảnh báo của mô hình để có thể áp dụng cho tương lai.
Thứ ba, các nghiên cứu trong nước khi xây dựng mô hình cảnh báo KHTT đã sử dụng giá trị ngưỡng cảnh báo trung bình trong một số nghiên cứu đi trước. Tuy nhiên, cơ sở khoa học của việc áp dụng giá trị trung bình này chưa thuyết phục. Đóng góp của luận án là đã giải thích cụ thể hơn về cơ sở lựa chọn và áp dụng các kết quả đi trước. Tuy nhiên, thay vì áp dụng ngưỡng cảnh báo đã tính toán sẵn, luận án đã áp dụng giá trị phân vị của từng chỉ số để từ đó tự tính toán ngưỡng cảnh báo. Mỗi chỉ số lại có những chuỗi giá trị rất khác nhau ở các nước nên việc áp dụng ngưỡng cảnh báo sẽ không thực sự phù hợp khi quy mô của các nền kinh tế là khác nhau.
Thứ tư, luận án đã xây dựng được công cụ cảnh báo KHTT tại Việt Nam hoàn toàn tự động trên phần mềm Excel dựa vào các hàm. Để dự báo khủng hoảng cho tương lai, người dùng chỉ cần nhập dữ liệu của các chỉ số cảnh báo, công cụ sẽ tự động biến đổi các dữ liệu ban đầu về dạng thích hợp của mô hình, tính toán ngưỡng cảnh báo và chỉ số hỗn hợp, vẽ biểu đồ biến động của từng chỉ số. Đồng thời, công cụ cho ra kết quả xác suất KHTT tại Việt Nam. Đây là điểm mới của luận án so với các nghiên cứu khác khi không chỉ dừng lại ở việc chứng minh mô hình khả thi cho mẫu và giai đoạn nghiên cứu mà còn chỉ ra được khả năng tiếp tục áp dụng của mô hình này như thế nào.
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án
Thứ nhất, kết quả của mô hình cảnh báo KHTT tại Việt Nam bằng phương pháp Signal Approach cho thấy sự phù hợp với tình hình thực tiễn trong giai đoạn 1996-2023. Theo đó, giai đoạn xác suất khủng hoảng cao nhất ở mức 65% là năm 2008-2009, tương ứng với cấp độ cảnh báo bất ổn, chưa chuyển sang giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên những tín hiệu cảnh báo liên tục của giai đoạn này cũng cho thấy những vấn đề nội tại của Việt Nam sau khi hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới cùng với những tác động khó tránh khỏi từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Do đó, mô hình này có thể là công cụ tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách để áp dụng dự báo KHTT trong tương lai.
Thứ hai, trong 10 chỉ số được đưa vào mô hình, các chỉ số có giá trị cảnh báo tốt nhất dựa trên tiêu chí về tỷ lệ độ nhiễu tín hiệu, độ bền và độ nhạy gồm độ lệch tỷ giá thực so với xu hướng, chỉ số chứng khoán, xuất khẩu, M2/dự trữ quốc tế, M2, chênh lệch lãi suất trong và ngoài nước. Việc quan sát diễn biến của 10 chỉ số trên so với ngưỡng cảnh báo sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có những biện pháp can thiệp kịp thời để ngăn chặn khủng hoảng. Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh cũng đề xuất các giải pháp để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế, giúp các chỉ số cảnh báo biến động một cách an toàn. Các giải pháp này được nhóm lại trong ba nhóm giải pháp chính. Nhóm giải pháp về chính sách tỷ giá liên quan tới chỉ số độ lệch tỷ giá thực so với xu hướng và dữ trữ quốc tế. Nhóm giải pháp về chính sách tiền tệ liên quan tới ba chỉ số lãi suất, chỉ số chứng khoán, cung tiền M2 và M2/dự trữ quốc tế. Nhóm giải pháp về chính sách thương mại liên quan tới chỉ số xuất khẩu và nhập khẩu.
Thứ ba, do hạn chế về thời gian và dữ liệu nghiên cứu nên nghiên cứu sinh chưa thể mở rộng phạm vi áp dụng của mô hình. Trong tương lai, mô hình này có thể tiếp tục nghiên cứu để áp dụng cho các nước đang phát triển chưa từng trải qua KHTT và có nhiều tương đồng về kinh tế với Việt Nam.