TRANG THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN
– Tên luận án: Ứng dụng chỉ thị phân tử trong cải thiện một số chỉ tiêu về năng suất sinh sản của gà Ác (Gallus gallus domesticus Brisson).
– Ngành: Công nghệ Sinh học. Mã số: 9420201.
– Họ tên nghiên cứu sinh: Trần Trung Tú. Khóa: 2020, đợt 2.
– Người hướng dẫn chính: TS. Lê Thanh Phương.
– Người hướng dẫn phụ: GS.TS. Nguyễn Trọng Ngữ.
– Cơ sở đào tạo: Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm, trường Đại học Cần Thơ.
1. Tóm tắt nội dung luận án
Nghiên cứu hiện tại được thực hiện nhằm cải thiện một số chỉ tiêu về năng suất sinh sản của gà Ác bằng chỉ thị phân tử. Đề tài thực hiện ba nội dung sau: (i) Xác định một số đa hình gene tiềm năng có liên quan đến năng suất sinh sản của gà Ác; (ii) Phân tích mối liên kết giữa một số gene ứng viên có liên quan đến một số tính trạng sinh sản ở gà Ác; (iii) Chọn tạo cải thiện năng suất sinh sản gà Ác với kiểu gene cho năng suất sinh sản cao. Các đa hình và kiểu gene tương ứng được xác định bằng dấu phân tử Indel (gene DRD2 và PRL), kỹ thuật PCR-RFLP (gene IGF1, INHA, NPY và VIPR1) kết hợp với phương pháp giải trình tự gene.
Đề tài đã thu được các kết quả như sau:
(i) Có tất cả 6 đa hình (DRD2 Indel, PRL Indel, IGF1/PstI, INHA/PstI, NPY/DraI và VIPR1/HhaI) đã được xác định trên quần thể với 380 gà Ác đẻ trứng. Kết quả phân tích cho thấy tại mỗi vị trí đa hình có 3 kiểu gene tương ứng. Đặc biệt, ở đa hình INHA/PstI đã xác định được SNP T829C (thay thế nucleotide T thành C tại vị trí 829 ở exon 1 của gene INHA).
(ii) Có mối liên kết chặt chẽ giữa 4 đa hình (PRL Indel, NPY/DraI, INHA/PstI và VIPR1/HhaI) với năng suất trứng, tỷ lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn/10 trứng và FCR của gà mái. Giai đoạn 16-40 tuần tuổi, gà mái với kiểu gene II (đa hình NPY/DraI) có tuổi đẻ quả trứng đầu là sớm nhất (117 ngày tuổi), năng suất trứng 76,1 quả/gà mái với tỷ lệ đẻ trung bình (48,5%), tiêu tốn thức ăn/10 trứng (1,27 kg) và FCR (3,56 g thức ăn/g trứng) là thấp nhất (P<0,05).
(iii) Gà mái ở thế hệ 1 cho năng suất trứng cao hơn so với thế hệ xuất phát là 6,2%. Qua đó cho thấy kiểu gene II (đa hình NPY/DraI) là một gene ứng viên tiềm năng có thể được sử dụng để cải thiện năng suất sinh sản của gà Ác theo hướng sản xuất trứng.
2. Những kết quả mới của luận án
Đây là công trình đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long và ở Việt Nam về xác định 6 đa hình gene (DRD2 Indel, PRL Indel, IGF1/PstI, INHA/PstI, NPY/DraI và VIPR1/HhaI) ở gà Ác. Ngoài ra, SNP T829C ở vùng exon 1 của đa hình INHA/PstI là kết quả đầu tiên trên gà ở Việt Nam.
Đề tài đã phân tích đánh giá ảnh hưởng của 6 đa hình này đến năng suất sinh sản của gà Ác, từ đó xác định được đa hình NPY/DraI có liên quan chặt chẽ đến năng suất sinh sản của gà Ác.
Đề tài đã chọn lọc, cải thiện năng suất trứng của gà Ác về mặt di truyền chọn giống thể hiện qua đàn gà thế hệ 1 có năng suất trứng cao hơn thế hệ xuất phát là 4,4 quả/gà mái/24 tuần đẻ (tăng 6,2%). Bên cạnh đó, đàn gà thế hệ xuất phát chọn lọc có năng suất trứng là 149,1 quả/gà mái/52 tuần đẻ.
3. Các ứng dụng/khả năng ứng dụng trong thực tiễn, các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
3.1 Các ứng dụng/khả năng ứng dụng trong thực tiễn
Việc sử dụng các chỉ thị phân tử là phương pháp tiếp cận hiện đại góp phần cải thiện năng suất trứng và rút ngắn được thời gian chọn lọc. Đề tài có ý nghĩa thực tế vì việc cải thiện năng suất sẽ gián tiếp góp phần bảo tồn nguồn gen giống gà bản địa và làm giảm giá thành, tăng lợi nhuận đối với người chăn nuôi. Kết quả đề tài đã tạo được đàn gà Ác có năng suất trứng cao, phục vụ công tác chọn lọc và nhân giống gà Ác ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Việc nghiên cứu các đa hình và ứng dụng trong chọn giống là tài liệu giảng dạy, và nghiên cứu đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu. Những hiểu biết này làm phong phú thêm tính đa dạng sinh học và đa dạng di truyền của các giống gà bản địa, hỗ trợ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gene vật nuôi trong tương lai.
3.2 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Nhân rộng các cá thể gà Ác mang kiểu gene II (đa hình NPY/DraI) vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất sinh sản của giống gà này ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Chọn lọc gà Ác ở thế hệ 2 và thế hệ 3, qua đó đánh giá hiệu quả chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản qua 3 thế hệ.